nguoi lai do song da 730x457 - Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà - Văn hay lớp 12

Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà – Văn hay lớp 12

Văn mẫu Trung học phổ thông

Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà – Bài làm 1

Loading...

Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là cây bút tài hoa, uyên bác, cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của . Ông đặc biệtcó sở trường về thể loại tuỳ bút. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “Người lái đò sông Đà”. Bên cạnh hình ảnh ông lái đò giản dị mà tài hoa, tác phẩm còn khắc hoạ được vẻ đẹp của con sông Đà trong những góc nhìn khác nhau: có khi hùng tráng, hung bạo, lúc lại trữ tình, duyên dáng nên thơ.

Trước hết, hình ảnh con sông Đà được hiện lên qua cái nhìn của tác giả về một con sông tự nhiên, lắm thác nhiều ghềnh, hung bạo ngỗ ngược, không chảy theo khuôn khổ lẽ thường. Vẻ nguy hiểm của con sông không chỉ được thể hiện qua việc lắm thác nhiều nghềnh mà đó còn là cảnh “đá bờ sông dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”.

Chỉ với vài chi tiết phác họa như thế, người đọc dã hình dung ra được sự hiểm trở, hùng vĩ của con sông. Không chỉ có thế, tác giả còn diễn tả cảm xúc khi đi qua đoạn sông trắc trở này: “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy vừa tắt phụt đèn điện”. Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, Nguyễn Tuân đã khắc họa nên hình ảnh một con sông Đà độc đáo, đẹp vẻ đẹp hùng vĩ, hoang dại nhưng cũng ẩn chứa đầy hiểm nguy.

Thế nhưng vẻ hùng vĩ, hoang dại của sông Đà chưa dừng lại ở đó. “Quãng mặt ghềnh hát loong, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò nào tóm được qua quãng ấy”. Với cách dùng động từ mạnh và kết cấu trùng điệp, tác giả đã làm rõ sự nguy hiểm của con sông hung dữ, sẵn sàng không kiêng nể mà lấy đi tính mạng của bất cứ tay lái nào khinh suất.

Những cái xoáy hút nước ở quãng Tà Mường Vát phía dưới Sơn La được tác giả miêu tả còn ghê rợn hơn nữa. “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn. […] Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới”. “Tiếng thác rống như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Với giọng điệu dồn dập, gay cấn, đầy cảm xúc, những câu văn gằn lên một cảnh tượng hùng vĩ nhưng nguy hiểm vô cùng. Một cách so sánh, nhân hóa tài ba và những liên tưởng “rất đắt”, rất hiếm thấy trong . Điều đó cho thấy Nguyễn Tuân thực sự là một bậc thầy về ngôn ngữ. Ông thổi hồn vào những con chữ, khiến từng con chữ như biết nói, biết rung động.

Đặc biệt hơn nữa, không chỉ dữ tợn mà sông Đà còn “nham hiểm” bủa vây ba trận chiến. Những tay lái đò muốn vượt qua khúc sông này thì đều phải vượt qua ba trận chiến hiểm trở, táo bạo này. Với giọng văn ngày càng dồn dập, tác giả như kéo người đọc cùng hồi hộp vượt thác với người lái đò. Trận thứ nhất “mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách”. Sang đến trận thứ hai “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bên phía bờ hữu ngạn”. Đến trận thứ ba có vẻ như ít cửa hơn nhưng lại quyết liệt và cam go hơn. Với tất cả những gì mà Nguyễn Tuân miêu tả, sông Đà hiện lên không khác nào một con thủy quái đầy nham hiểm và thâm độc, chỉ rình mò nuốt chửng lấy con mồi bất cứ khi nào.

Hung bạo là thế, nham hiểm là thế, vậy mà qua những thác ghềnh, con sông Đà lại trở nên duyên dáng, thơ mộng và trữ tình. “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Cái đẹp còn có ở nước sông Đà thay đổi theo mùa, trong đó con sông đẹp nhất là mùa xuân và mùa thu: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

Đẹp nhưng sông Đà cũng có những lúc buồn mênh mang và hoang sơ đến lạ kỳ: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn như như một nỗi niềm cổ tích xưa”. “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”. Cảnh sông Đà còn là “những nương ngô nhú lên những lá ngô non đầu mùa, những cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn cỏ gianh đẫm sương đêm”. Đến đây, người đọc gần như đã quên đi vẻ hung bạo, toan tính của sông Đà trên kia. Thay vào đó, người ta chỉ thấy một vẻ đẹp nhẹ nhàng, cổ kính mà tươi mới biết bao nhiêu. Con sông Đà lúc này còn như một người bạntâm giao, tâm tình: con sông “như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn, như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi”. Sông Đà trở nên hiền hòa và thơ mộng lạ kì, nó “trôi những con đò mình nở chạy buồm vải, nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên”.

Loading...

Có thể nói rằng, sông Đà mang một vẻ đẹp độc đáo đến nỗi khiến người đọc chúng ta phải ngỡ ngàng. Bằng tình yêu cái đẹp, yêu thiên nhiên đất nước kết hợp với vốn từ phong phú, tài hoa, Nguyễn Tuân đã tái hiện lên một khung cảnh Tây Bắc thật hùng vĩ mà trữ tình, nên thơ. Sông Đà quả là một món quà ưu ái của thiên nhiên, là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của bậc thầy tùy bút Nguyễn Tuân.

Phân tích hình tượng sông Đà trong Người lái đò sông Đà – Bài làm 2

Nguyễn Tuân (1910-1987) là một nhà văn có lòng yêu nước thiết tha, niềm say mê vẻ đẹp thiên nhiên sông núi. Ông còn là nghệ sĩ tài hoa, lịch lãm, uyên bác, rất thích mô tả những cái gì dữ dội, mãnh liệt hoặc đẹp một cách tuyệt vời bằng những câu văn vừa cổ kính vừa mới mẻ, giàu màu sắc tạo hình và nhìn sự vật theo thẩm mĩ, văn hoá. Nét phong cách nghệ thuật ấy của ông trong văn xuôi sau Cách mạng có lẽ được bộc lộ rõ nét và hấp dẫn nhất qua bài tuỳ bút nổi tiếng Người lái đò sông Đà. Qua con mắt nhìn của một nghệ sĩ tài hoa với những giác quan tinh tế, trong cuộc vượt thác sông Đà này, Nguyễn Tuân đã làm hiện lên trước mắt người đọc bức tranh vô cùng ấn tượng về thiên nhiên Tây Bắc vừa tươi đẹp, giàu có vừa bạo liệt, hùng vĩ qua hình ảnh con sông Đà.

Dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân, con sông Đà không phải là thiên nhiên vô tri vô giác mà là một sinh thể sống động, một nhân vật đầy sức sống và có tính cách hẳn hoi. Đó là sự kết hợp vừa lạ lùng mà thật ấn tượng: vừa hung bạo dữ dằn vừa trữ tình thơ mộng. Lúc hung bạo nó như kẻ thù số một của , lúc trữ tình nó lại đầy chất thơ và thân thiết với như một cố nhân xa cách thì nhớ nhung lưu luyến. Cho nên hai câu thơ đề từ có thể được xem là đã thâu tóm được hình tượng sông Đà “Đẹp vậy thay tiếng hát trên sông” và “Chúng thuỷ giai đông tẩu – Đà giang bắc lưu”.

I. Tính cách hung bạo – bạo chúa:

Trước hết tác giả lai lịch của con sông Đà “Nó khai sinh ở huyện Cảnh Đông – Vân Nam – Trung Quốc lấy tên là Ly Tiên, đi qua một vùng núi ác, rồi đến nửa đường thì xâm nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hoà vào sông Hồng.” Sau đó bằng những trang viết sinh động, bằng câu văn độc đáo gợi cảm, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ được hình ảnh con sông Đà mới dữ dằn, hung bạo làm sao!

1. Hung bạo ở chỗ đôi bờ xích lại gần nhau làm cho lòng sông hẹp lại như cái yết hầu thắt giữa hai vách đá dựng đứng hiểm trở. Ở đây “Con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia, ngồi trong khoang đò qua quãng sông ấy đang mùa hè mà cũng thấy lạnh cảm thấy mình như đang đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nhà nào ở tầng mấy vừa tắt phụt ánh điện.”

2. Hung bạo ở cái dữ dằn của gió. “Lại như quãng mặt ghềnh hát loóng dài hàng cây số”gió phối hợp với nước với đá với sóng tạo nên những cơn xoáy thật kinh hãi: “Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn từng luồng gió gùn ghè suốt năm lúc nào cũng đòi nợ xuýt (nợ không có cũng đòi) bất cứ người lái đò nào tóm được qua đây.”

3. Hung bạo hơn nữa là ở những cái hút nước giống như những cái giếng bê tông người ta thả xuống để chuẩn bị làm móng cầu: Trên những cái hút nước ấy cũng đang quay lừ lừ những cánh quạt đàn” Nước ở đó “cứ ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Con sông Đà không khác gì một loài hung thủ đi đến đâu là gieo rắc tử khí đến đó. Cho nên không một chiếc thuyền nào dám men gần đến cái hút nước ấy. Bề gỡ nghênh ngang qua đây như có vẻ thách thức kiêu ngạo, vô ý lại bị cái hút nước đó lôi tuột xuống. Thuyền “Trồng ngay cây chuối ngược, rồi vụt biến đi bị dìm dưới lòng sông đến mười phút sau, mới thấy tan xác ở khuỷu sông phía dưới”. Cách so sánh ví von, mô tả của Nguyễn Tuân gây cảm giác rất mạnh làm cho người đọc như nghe thấy nhìn thấy được tận mắt cái hung dữ của sông Đà mà thót tim lại.

4. Nhưng con sông Đà hung bạo nhất và ở mấy chục con thác đá tạo thành các thạch thuỷ tr vô cùng hiểm trở với biết bao cửa tử. Con sông Đà đã trở thành một loài thuỷ quái vừa hung ác vừa nham hiểm, khi còn ở xa đã lắng nghe được tiếng nước thác khi cán trách, khi van xin, khi khiêu khích khi chế nhạo. Lúc tới gần “thì mặt sông rung lên như tuốc bin thuỷ điện”. Lòng sông thì trắng xoá làm bật nổi những tảng đá dàn bầy thế trận, tảng nào hòn nào trông cũng ngỗ nghịch và như những vị tướng “Có vị trông oai phong lẫm liệt; có vị như đang hất hàm bắt cái thuyền phải xưng tên, xưng tuổi tuổi trước khi giao chiến”. “Có vị lại lùi một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Những tri thức về quân sự, về võ thuật, thể dục, thể thao, điện ảnh của tác giả được dịp ném ra để diễn tả sự độc ác, xảo quyệt hết sức nguy hiểm của con thác. Khi thì nó mai phục để đột nhiên nhổm cả dậy vồ lấy con thuyền nơi khúc sông ngoặt; khi thì nó lại tỏ ra sơ hở để dụ con thuyền vào rồi bất ngờ quay lại đánh quật vu hồi. Khi đã giáp lá cà thì nó đâm thẳng vào hông ông lái đò, bẻ gãy cán chèo, rồi đá trái thúc gối vào bụng, dở đủ đòn âm, đòn tỉa, rồi túm lấy thắt lưng đòi lật ngửa bụng ông lái đò giữa sóng nước. Nó vừa đánh vừa reo hò la hét vang động cả một vùng sông nước hoang vu “như tiếng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa “Khi con thuyền du kích chọc thủng được tuyến 2, thì nhiệm vụ của các boang ke chìm, pháo đài nổi ở tuyến 3 phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên. Cuối cùng “cái thằng tướng đá đứng chặn ở cửa ra vào đã tiu ngỉu cái mặt xanh lè thất vọng”.

II. Tính cách trữ tình – nữ hoàng :

1. Qua cách mô tả đặc sắc của Nguyễn Tuân, con sông Đà có hai nét tính cách dường như đối lập nhưng rất thống nhất: vừa hung bạo vừa trữ tình như thể là mĩ nhân vậy. Nguyễn Tuân đã nhìn con sông Đà bằng con mắt thẩm mĩ văn hóa để phát hiện ra những vẻ đẹp và sắc màu đa dạng của con sông Đà chảy dọc suốt miền Tây Bắc này. ở những quãng yên tĩnh thì sông Đà quả thật rất thơ mộng “ Như một mĩ nhân kiều diễm tuôn dài áng tóc trữ tình mà đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”.

2. Nguyễn Tuân cũng đã nhận ra những sắc màu khác nhau của sông Đà theo từng mùa mang vẻ đẹp riêng. Qua làn mây mùa xuân, sông Đà xanh màu ngọc bích. Qua ánh nắng mùa thu sông Đà lừ lừ chín đỏ như mặt người bầm đi vì rượu bữa.

3. Nguyễn Tuân cũng đã dùng những hình ảnh dịu dàng, trong sáng nhất để tả sông Đà nên ông đã khám phá ra những chất thơ phong phú, đa dạng của nó: Khi thì nó hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích; khi thì nó mang chất thơ cổ điển Đường thi; khi lại mang chất thơ tươi trẻ “Vui như nắng giòn tan sau kì mưa dầm”. Có khi lại ẩn chứa chất thơ tình tứ “Sông Đà bọt nước lênh bênh, bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của Tản Đà – gửi người tình nhân chưa quen biết).  Dưới con mắt của tác giả Vang bóng một thời, cảnh ven sông Đà ở đây lặng tờ cổ xưa như chảy từ đời Lý, đời Trần đến nay. Và giữa cái không khí phẳng phất màu tiền sử ấy, “thỉnh thoảng có đàn cá dầm xanh, anh vũ quẫy vọt lên bụng trắng như bạc rơi thoi”. Tiếng cá đập nước sông làm cho đàn hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khói áng cỏ và tai lắng nghe một tiếng còi sương, một âm thanh vẳng đưa trong , gợi lên một không khí thật tĩnh lặng hoang vắng nhưng chứa chan thi vị. Đắm mình trong vẻ đẹp trữ tình trong vẻ đẹp của sông Đà, Nguyễn Tuân nhiều lúc “muốn đề thơ lên sông nước”.

Như vậy để làm nổi bật cái hung bạo, dữ gìn và vẻ hung bạo, thơ mộng, trữ tình của sông Đà, Nguyễn Tuân đã có những sáng tạo nghệ thuật độc đáo như từ ngữ giàu màu sắc tạo hình, sử dụng hình ảnh đặc sắc, khả năng so sánh, liên tưởng bất ngờ, các biện pháp nhân hoá, ẩn dụ, năng lực quan sát tưởng tượng đặc biệt. Sông Đà đã trở thành một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hóa, làm thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ và bồi đắp cho độc gỉa tình yêu,niềm tự hào về vẻ đẹp đa dngj của thiên nhiên tổ quốc.

Xem thêm:  Phân tích nhân vật T’ nú trong truyện ngắn "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành - Văn hay lớp 12
Like bài viết để ủng hộ tác giả

Bình luận bài viết